Trang chủ » Điêu khắc đá Động Thiên Tôn - Núi Dũng Đường - Thời Chúa Trịnh thế kỷ XVII: Lịch sử và huyền thoại

Điêu khắc đá Động Thiên Tôn - Núi Dũng Đường - Thời Chúa Trịnh thế kỷ XVII: Lịch sử và huyền thoại

(Ngày đăng: 26-05-2016 22:35:28)
Động Thiên Tôn nằm ở khu vực núi Dũng Đương hay còn gọi là núi Vũ Đương cách trung tâm thành phố Ninh Bình 5 km về phía Tây Bắc.

"Vũ Đương sơn" có nghĩa là núi chặn dòng nước mạnh chảy xuống đồng bằng thoáng đãng, tú lệ, thanh bình. Gần núi Vũ Đương, phía Tây có núi Lương chạy dài bao quanh. Phía Đông bắc là sông Hoàng Long uốn khúc, hiền hòa, thơ mộng. Phía Đông Nam là Côn Lĩnh, 3 dãy núi hợp thành tường đá tạo khổng lồ che chắn cho kinh thành Hoa Lư. Ở đây địa thế sông núi hòa quyện, tầm nhìn rộng, làm chỗ dựa vững vàng cho 2 triều đại Đinh Lê khi giành lại nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc. Động Thiên Tôn còn là tiền đồn, vọng gác tiền tiêu của người Việt cổ đã được phát hiện từ thời Hùng Vương 25 thế kỷ trước.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh người làng Đại Hữu, trước khi cất quân chinh phục các sứ quân khác, được Trấn Vũ Thiên Tôn phù trợ đạt nhiều thắng lợi lên ngôi Hoàng Đế. Vua Đinh Tiên Hoàng ghi nhớ công lao và đã phong sắc thần là "An quốc tôn thần", cho sửa sang lại động và xây đền thờ ở phía đông gọi là "An quốc tôn thần từ" tức đình hàng tổng bây giờ. Thời Lý, sau khi kinh đô di chuyển ra thành Đại La (Thăng Long thời Lý), vua Lý Thái Tổ vẫn tiếp tục cho xây dựng tại đây nhiều công trình đền đài kiến trúc quy mô. Khu vực Hoa Lư được nối tiếp xây dựng. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện lại nhiều di tích, bia tháp của nhiều thời đại sau này.

Theo truyền thuyết về thần Trấn Vũ Thiên Tôn hay là Trấn Vũ đế quân, Đăng Ma Thiên Tôn… ông chính là Huyền Thiên Thương Đế kim thuyết hóa thân. Ngài có vai trò tổng chỉ huy thiên bình, thiên tướng nhà Trời, được cử xuống trần gian dẹp loạn. Thời Triệu Võ Đế nước ta bị phong kiến phương Bắc xâm chiếm, lúc đó Ninh Bình nổi lên nhiều giặc dã, cướp hại, người lương thiện vô cùng cực khổ. Khi chúng giả làm lái đò để bắt người, giả làm gái đẹp để lừa người… Thổ địa tâu mọi việc này lên thiên đình để cứu vớt dân lành. Ngọc Hoàng sai Huyền Thiên Trấn Vũ xuống truy diệt yêu ma, suốt từ Gián Khuất xuống Đa Giá, Đại Năng rồi Ngài hóa ở núi Cánh Diều. Nhân dân các xã nhớ ơn đã lập đền thờ ở nhiều nơi, trong đó có đền thờ Thiên Tôn dưới núi Cánh Diều thuộc Ninh Bình. Thần cũng có công dẹp loạn nhiều nơi nên có nhiều đền thờ như: Trấn Vũ quán, Huyền Thiên đại quán ở Thăng Long (Hà Nội); đền Trấn Vũ Hải Dương; đền Ông Bắc An Giang. Tượng thờ thần ở hai tư thế ngồi hay đứng đều có tay chống kiếm và bên dưới có rắng, rùa là những yêu ma đã được thần dẹp trừ, thu phục làm cận vệ cho Ngài trấn giữ phương Bắc. Những tác phẩm điêu khắc trong động được làm từ thế kỷ XVIII thời chúa Trịnh Tráng.

Đức Thiên Tôn

Trong đạo giáo quan niệm, 3 ngôi tam thánh là cao chí tôn. Triên thiên giới thì thần Trấn Vũ ở vị trí thứ tư nắm giữ thiên binh, thiên tướng nhà trời. Tương truyền khi xưa Huyền Thiên Thượng đế vì có lòng ham muốn chiếm đoạt cây đào tiên 7 màu sắc chiếu sáng khắp vũ trụ nên dù qua nhiều kiếp để tu luyện nhưng vẫn không đắc đạo, bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian đầu thai tu luyện. Thiên đình trao cho ngọc ấn, kiếm thần và phong là Ngọc hủ (hư?) sứ tướng Huyền thiên thượng đế, Kim thuyết hóa thân Đăng Ma thiên tôn, rồi sai xuống trần gian tiêu diệt yêu ma. Trước khi về trời Thần phải để lại nội tạng và ruột gan ở trần gian. Sau này tim phổi của thần hóa thành quy tinh (rùa tinh), ruột hóa thành xà tinh chuyên gây hại ở vùng núi Vũ Đương Ninh Bình. Thần đã xuống đây dẹp quy xà. Sau này xà tinh được phong là Hỏa thần, Quy tinh được phong là Thủy thần luôn luôn ở bên cạnh Huyền thiên để phụ giúp người chuyên trừ yêu, dẹp loạn. Sách Trấn Vũ quán lục chép: "Trời đất hỗn độn truyền pháp giáo chủ tu chân ngộ đạo, giác ngộ quần mê chúng sinh, tiễu trừ tai nạn, có 82 phép biến hóa, tổ sư tam giáo, đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn". Thần sinh ngày 3 tháng 3; hóa ngày 9 tháng 9. Ngày 25 tháng chạp là ngày xuống trần giám sát công tội ở nhân gian. Muốn cầu được thần linh ứng thì phải ăn chay, thanh tịnh và sống thiện lương".

Mỹ thuật điêu khắc đá động Thiên Tôn

Đường vào chùa, động Thiên Tôn thoáng đãng, quanh co núi non, sông nước. Qua cửa tam quan, đất rộng mênh mông, cảnh chùa xưa mỹ lệ đã bị giặc tàn phá, hiện nay đang chuẩn bị trùng tu lớn. Sư cụ Thích Đàm Doãn đã ngoài 70 tuổi hồ hởi đón tiếp và giới thiệu quang cảnh chùa. Tại đây, di tích đá còn lại rất nhiều và mang đậm nét nghệ thuật thế kỷ XVII: một con sấu đá to nằm phục bên tháp bia cổ đặt trên thân rùa, kích cỡ bằng bia rùa ở Văn Miếu Hà Nội. Phía phải đường lên động Thiên Tôn sẽ nhìn thấy rõ một cây đại thụ ôm bọc một cây tháp cổ bằng đất nung đã bị hủy hoại từ thời xa xưa.

Nhìn tổng thể động Thiên Tôn là một hàm rồng 1 lớn đang há miệng, tạo ra động phía ngoài, hàm dưới rộng ngước cao được đặt một long sàng đá chạm rồng, cây leo bao quanh. Long sàng đá to lớn có chạm rồng được làm từ một khối đá rất lớn, đặt lên hàm núi cheo leo là một kỳ tích thời xưa. Hàm trên há rộng, phía trong là một động lớn có 3 chữ đại tự (Động Thiên Tôn). Hai bên khóe miệng rồng là đường lên xuống vào động. Trong lòng động không gian mát rượi như có điều hòa không khí, khoảng 25 độ C trong khi ở ngoài trời nắng 37 độ C. Động Thiên Tôn vòm cao hàng chục mét, rộng thoáng hàng 100m2, đi vào phía trong động có đường xuống địa phủ và có hang ngầm thông xuyên núi ra sông Hoàng Long. Nơi đây là một bảo tàng đá tuyệt vời vào thời Lê Trịnh, ghi rõ nét chạm khắc thời đầu thế kỷ XVIII gồm 1 hương án đá cao khoảng 1m30, hoa văn chạm trổ 4 mặt hình rồng, mây, hoa, lá, các bát hương đá, đôi nến đá. Phía sau nơi bầy bộ tứ khí là đôi phủ việt chạm hình đầu rồng, đôi chùy cao khoảng 2m cắm trên giá rồng mây bằng, đá, chen giữa là một sập nhỏ trên đặt mâm bồng vuông chữ nhật đặt đồ thờ đá. Tiếp đến là một long sàng đá cao, chạm lưỡng long triều nhật, 4 góc đầu rồng hình uốn cong kiểu chân quỳ dạ cá, trên đặt các đồ thờ. Chui qua vòm động ngoài hình cánh cung vào tới động trong rộng rãi cao hàng chục mét, không khí trở lên mát lạnh. Một kiệu Long đình lớn cao gần 3m, hình chữ nhật cánh cung, 4 cột mái kiệu cong chạm rồng được tạc từ những phiến đá liền khối dài gần 3m. Hai bên thành kiệu chạm đôi rồng lớn, có cùng một phong cách với đôi rồng đá bên long sàng đề thờ vua Đinh ở Hoa Lư. Trong kiệu là tượng Trấn Vũ Thiên Tôn mặc giáp trụ đứng uy nghi, sơn son thiếp vàng cao to bằng người thật (khoảng 1m70), hai tay chống kiếm, đứng trên mái rùa. Tượng đức Thiên Tôn tạc bằng đá, trang phục hoa văn tinh mỹ, thắt đai lớn, khuôn mặt thư thái, phong quang, tóc xõa trải dài qua vai ra sau lưng đây là đặc điểm tượng thời Lê Trịnh. Phía sau là long ngài của thần.

Khu vực động Thiên Tôn ở phía động ngoài còn rất nhiều tượng đá to nhỏ, đáng chú ý nhất là hai tượng Nam Tào, Bắc Đẩu to lớn ngồi trong khám thờ. Nam Tào, Bắc Đẩu đội mũ ô sa, trang phục triều đình cổ thế kỷ XVII, vai có lá phủ, sơn son thếp vàng. Từ đây rẽ phải, bên trái miệng rồng đi ngược lên phía trên khoảng hơn hai chục bậc ra phía ngoài núi, nơi thờ có tượng tam thanh đế quện bằng đá, vòng quanh ngoài sân như một bao lớn nhìn ra cánh đồng, non nước mênh mông, thanh bình mỹ lệ. Động Thiên Tôn là một địa điểm còn bảo lưu được nhiều tượng đá, bia đá chuông đồng, do ở trong động nên không bị phong hóa, gió mưa bào mòn như ở đền Hoa Lư. Nét chạm khắc trên đấy sắc xảo, họa tiết hoa mỹ của người thợ đá Ninh Bình thế kỷ XVII, XVIII.

Đền chùa, động Thiên Tôn là di tích cổ từ thời Đinh Tiên Hoàng Đế trải qua triều Lý, Trần vẫn được xây dựng nối tiếp. Thời Minh xâm lược đã bị hủy hoại. Đến thời Lê Trịnh lại được xây dựng khang trang, trở thành đại danh lam ở trấn Sơn Nam, còn để lại nhiều nghệ thuật điêu khắc đá, long sàng, đồ thờ, binh khí, bia đá, khánh đá, chuông đồng là tài sản mỹ thuật quý báu mang nhiều dấu ấn lịch sử điêu khắc còn lại đến nay. Chùa động Thiên Tôn đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Nơi đây là một di tích văn hóa tâm linh từ thời Đại Cồ Việt cần được bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn.